Chuyên đề · Tháng .../...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỤM CHUYÊN MÔN SỐ ... CẤP THCS
Trường THCS ... · Đơn vị thực hiện chuyên đề
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

01

Lý do chọn chuyên đề

Trong một lớp trung học cơ sở, học sinh không vào bài với cùng một mặt bằng. Có em nắm chắc kiến thức nền và làm xong nhiệm vụ khi các bạn còn đang đọc đề. Có em đọc được đề nhưng chưa thuộc phép tính, khái niệm hoặc mẫu câu mà bài mới cần dùng. Có em tiếp thu chậm hơn: nghe giảng hiểu, về chỗ lại chưa tự làm được bước đầu. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu mọi học sinh hướng tới yêu cầu cần đạt của bài, đồng thời nhà trường tổ chức dạy học phù hợp với sự khác nhau đó.

Cách làm phổ biến hiện nay là một phiếu, một nhịp, một lời giảng cho cả lớp. Phiếu ấy vừa sức với một phần học sinh. Em chưa đạt yêu cầu của bài thường dừng giữa chừng vì thiếu đúng mảnh kiến thức nền, hoặc vì chưa biết bắt đầu. Em khá, giỏi ở bài đó làm xong sớm rồi ngồi chờ, chép lại, hoặc nhận một bài khó lấy từ đề thi chọn lọc, lệch yêu cầu của tiết đang học.

Một số giờ đã có “phiếu dễ” và “phiếu khó”, nhưng hai phiếu không còn cùng một việc. Phiếu dễ bị cắt thành bài tập nhỏ hơn hẳn, học sinh làm đúng mà vẫn chưa chạm yêu cầu cần đạt. Phiếu khó đổi sang nội dung khác, học sinh giỏi không được đào sâu bài bạn mình đang học. Danh sách xếp loại học lực đầu năm cũng hay được dùng lại cho mọi tiết: em giỏi môn này vẫn nhận việc khó ở môn em đang hổng; em học lực trung bình vẫn nhận phiếu dễ ở bài em đã làm được.

Việc cần làm vì thế nằm ngay trong khâu soạn một tiết: biết lớp đang chênh ở đâu, xếp nhóm theo căn cứ của bài sắp dạy, rồi viết nhiệm vụ khác nhau về lượng gợi ý và về cách hỗ trợ. Yêu cầu cần đạt giữ nguyên. Chuyên đề được chọn vì việc này giáo viên làm được trong đợt sinh hoạt chuyên môn, với lớp mình đang đứng, không cần thêm một chương trình mới.

Vấn đề chuyên đề này nhằm giải quyết. Trong cùng một lớp, học sinh chênh nhau về năng lực, trình độ và khả năng tiếp thu, nhưng nhiệm vụ học tập còn được giao như nhau, hoặc được tách thành những bài không còn cùng hướng tới yêu cầu cần đạt. Học sinh chưa đạt yêu cầu và học sinh còn hạn chế về kiến thức nền thiếu chỗ bù đúng việc đang vướng. Học sinh khá, giỏi thiếu việc để phát huy ngay trong bài đó.

02

Mục đích của chuyên đề

Mục đích chung

Giúp giáo viên THCS trong cụm chuyên môn thiết kế và tổ chức được dạy học phân hóa: xác định nhóm học sinh theo sự khác biệt của bài đang dạy, giao nhiệm vụ khác mức hỗ trợ, và vẫn đưa mọi nhóm hướng tới cùng một yêu cầu cần đạt.

Mục đích cụ thể

  1. Giáo viên mô tả được thực trạng chênh lệch về năng lực, trình độ và khả năng tiếp thu trong một lớp mình đang dạy, bằng việc quan sát được trên bài làm, không bằng xếp loại học lực chung.
  2. Giáo viên xác định được các nhóm đối tượng của bài sắp dạy và chọn được cách hỗ trợ đúng với từng nhóm.
  3. Giáo viên thiết kế được nhiệm vụ học tập ở các mức khác nhau, cùng hướng tới yêu cầu cần đạt của bài.
  4. Học sinh chưa đạt yêu cầu và học sinh còn hạn chế về kiến thức nền có việc bù đúng chỗ đang vướng, rồi làm được phần lõi của yêu cầu cần đạt.
  5. Học sinh khá, giỏi có việc đào sâu ngay trong bài: giải thích, phát hiện chỗ sai, hoặc làm một tình huống mới cùng chuẩn.
  6. Mỗi tổ có một kế hoạch hoặc một hoạt động dạy học đã chia nhiệm vụ theo nhóm, dùng được ở lần dạy gần nhất.

Những việc phải làm để đạt các mục đích này nằm ở mục Nhiệm vụ của chuyên đề. Cách làm nằm ở mục Phương pháp, cách thức thực hiện. Một kế hoạch đã viết đủ phiếu nằm ở tệp kèm theo.

03

Khách thể, đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động

Ba lớp này cần tách rõ để khỏi nhầm người được nghiên cứu cách làm với người được học bằng nhiệm vụ đã thiết kế.

Đối tượng nghiên cứu

Việc dạy học phân hóa trong một lớp THCS: cách nhìn thực trạng chênh lệch, cách xác định nhóm học sinh, cách thiết kế nhiệm vụ theo mức hỗ trợ khác nhau nhưng cùng hướng tới yêu cầu cần đạt, cùng các giải pháp hỗ trợ học sinh chưa đạt yêu cầu, học sinh còn hạn chế về kiến thức nền, và giải pháp phát huy học sinh khá, giỏi.

Khách thể nghiên cứu

Giáo viên đang dạy ở các trường trong cụm chuyên môn cấp THCS. Mỗi giáo viên mang theo căn cứ của một lớp mình đứng, từ lớp 6 đến lớp 9, thuộc tổ chuyên môn của cụm. Cán bộ quản lý dự buổi sinh hoạt để cùng nghe nguyên tắc, không nằm trong khách thể được nghiên cứu.

Đối tượng tác động

Là nhóm giáo viên ấy. Chuyên đề tác động vào cách họ chuẩn bị và dạy một tiết: xếp nhóm theo bài, viết nhiệm vụ, hỗ trợ trong giờ, giao việc phát huy cho học sinh làm xong sớm. Khi giáo viên dạy thử, học sinh của lớp được chọn là người thực hiện nhiệm vụ và là người cho thấy cách làm có đứng hay không.

Học sinh là người làm nhiệm vụ ở tiết dạy thử. Buổi sinh hoạt tác động trực tiếp vào giáo viên. Học sinh gặp phiếu đã được tổ thống nhất, trên lớp được chọn để dạy thử. Chuyên đề không lấy học sinh ra khỏi lớp để thực nghiệm riêng, và không công bố tên học sinh trong tài liệu hay trong buổi thảo luận.
Ai Vai trò đối với chuyên đề
Giáo viên bộ môn Đối tượng tác động. Đổi cách nhìn chênh lệch của lớp, cách xếp nhóm theo bài, và cách viết nhiệm vụ cùng yêu cầu cần đạt.
Tổ chuyên môn Nơi phản biện chéo: mức hỗ trợ còn hướng tới yêu cầu cần đạt hay đã bị hạ thành bài khác; mức phát huy còn bám bài hay đã lệch sang đề chọn lọc.
Học sinh lớp được dạy thử Người thực hiện nhiệm vụ phân hóa. Bài làm của các em, sau khi đã xóa họ tên, là căn cứ để xem giả thuyết có đứng với tiết đó hay không.

04

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi. Khi giáo viên xác định nhóm học sinh theo năng lực, trình độ và khả năng tiếp thu của đúng bài đang dạy, rồi giao nhiệm vụ khác nhau về mức hỗ trợ nhưng cùng hướng tới yêu cầu cần đạt, đồng thời có cách bù cho học sinh chưa đạt yêu cầu, học sinh còn hạn chế về kiến thức nền và cách đào sâu cho học sinh khá, giỏi, thì học sinh trong các nhóm có làm được phần lõi của yêu cầu cần đạt rõ hơn so với khi cả lớp nhận một nhiệm vụ giống nhau hay không?

Câu hỏi này nhằm vào một bài mà tổ chọn, trong buổi sinh hoạt và ở một tiết dạy thử ngay sau đó. Câu trả lời dự kiến nằm ở giả thuyết tiếp theo. Căn cứ để trả lời là nhiệm vụ đã được phản biện, bài làm của học sinh sau khi xóa họ tên, và ghi chép của giáo viên về bước học sinh làm được. Chuyên đề không dùng một bài kiểm tra chuẩn hóa để trả lời câu hỏi này.

05

Giả thuyết khoa học

Giả thuyết. Nếu giáo viên xếp nhóm theo căn cứ của bài sắp dạy, giao cho mỗi nhóm một nhiệm vụ khác nhau về độ gợi ý và về việc cần làm thêm, nhưng mọi nhiệm vụ đều hướng tới cùng một yêu cầu cần đạt; nếu học sinh chưa đạt yêu cầu và học sinh còn hạn chế về kiến thức nền được bù đúng chỗ đang vướng rồi làm phần lõi của yêu cầu; nếu học sinh khá, giỏi được giao việc giải thích, bắt lỗi hoặc tình huống mới trong cùng yêu cầu ấy, thì ở tiết dạy thử, các nhóm sẽ làm được phần lõi của yêu cầu cần đạt rõ hơn so với cách giao một nhiệm vụ cho cả lớp.

Giả thuyết được xem là có cơ sở với bài đó khi sản phẩm và tiết dạy thử cho thấy các dấu hiệu sau:

  1. Ba nhiệm vụ ghi cùng một yêu cầu cần đạt, khác nhau ở chỗ gợi ý, ở chỗ bù kiến thức nền và ở việc dành cho học sinh làm xong sớm.
  2. Nhiệm vụ của nhóm cần hỗ trợ vẫn yêu cầu học sinh làm ra sản phẩm của yêu cầu cần đạt, có khung hoặc có bước được hướng dẫn.
  3. Trong nhóm cần hỗ trợ, giáo viên tách được em vướng vì thiếu kiến thức nền với em đã có nền nhưng chưa tự làm được quy trình của bài.
  4. Nhiệm vụ của nhóm khá, giỏi vẫn nằm trong yêu cầu của tiết: có giải thích, có chỗ sai cần chỉ ra, hoặc có tình huống thứ hai cùng chuẩn.
  5. Sau tiết dạy thử, giáo viên ghi được mỗi nhóm đã làm đến bước nào của yêu cầu cần đạt, và một chỗ phiếu còn vướng.

Nếu phiếu hỗ trợ đã thành một bài dễ khác hẳn, hoặc phiếu của học sinh khá giỏi đã thành đề thi chọn lọc, giả thuyết chưa được củng cố ở tổ đó. Tổ viết lại nhiệm vụ trên đúng bài ấy rồi mới dạy thử.

06

Nhiệm vụ của chuyên đề

  1. Làm rõ thực trạng chênh lệch về năng lực, trình độ và khả năng tiếp thu của học sinh trong cùng một lớp, trên một bài cụ thể mà giáo viên đang dạy.
  2. Xác định các nhóm đối tượng học sinh của bài đó và căn cứ để xếp nhóm, đủ để chọn giải pháp hỗ trợ phù hợp.
  3. Thiết kế nhiệm vụ học tập theo các mức khác nhau, cùng hướng tới yêu cầu cần đạt.
  4. Đưa ra giải pháp hỗ trợ học sinh chưa đạt yêu cầu và học sinh còn hạn chế về kiến thức nền.
  5. Đưa ra giải pháp phát huy khả năng của học sinh khá, giỏi ngay trong bài đang học.
  6. Xây dựng một kế hoạch bài dạy minh họa đã có đủ nhiệm vụ theo nhóm, để các tổ dựa vào cấu trúc mà viết bài của môn mình.
  7. Tổ chức buổi sinh hoạt để mỗi tổ làm một kế hoạch hoặc một hoạt động cho bài sắp dạy, phản biện chéo, rồi dạy thử và ghi lại.

Nhiệm vụ 6 được trình bày thành kế hoạch bài dạy riêng trong tệp Kế hoạch bài dạy minh họa, môn Toán, lớp 7, nội dung tỉ lệ thức. Các tổ khác giữ nguyên cách chia nhóm và cách viết ba mức nhiệm vụ, thay yêu cầu cần đạt và tình huống bằng bài sắp dạy của môn mình. Phần cuối tệp đó có bảng gợi ý cho Ngữ văn, Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Tiếng Anh.

07

Phạm vi của chuyên đề

Mặt Trong chuyên đề này Nằm ngoài chuyên đề này
Nội dung Chênh lệch trong một lớp; cách xác định nhóm theo bài; nhiệm vụ cùng yêu cầu cần đạt nhưng khác mức hỗ trợ; hỗ trợ học sinh chưa đạt và học sinh hổng kiến thức nền; phát huy học sinh khá, giỏi. Không soạn lại phân phối chương trình cả năm. Không biến chuyên đề thành một bộ đề thi phân hóa cho mọi bài.
Người Giáo viên các tổ trong cụm. Học sinh lớp được chọn khi dạy thử. Học sinh có kế hoạch giáo dục cá nhân vẫn học tiết này theo nhóm phù hợp. Việc điều chỉnh riêng theo kế hoạch đó do giáo viên chủ trì kế hoạch thực hiện.
Địa bàn Các trường thuộc cụm chuyên môn cấp THCS. Tài liệu để trống tên trường, tên cụm, để đơn vị nào được giao cũng dùng được. Không khảo sát toàn tỉnh, không gắn số liệu của một trường cụ thể vào tài liệu chung.
Thời gian Biên soạn và sinh hoạt trong đợt cụm giao. Dạy thử một tiết ngay sau buổi sinh hoạt. Không theo dõi sự tiến bộ của từng em trong cả năm học bằng chuyên đề này.
Cấp học và bài THCS, lớp 6 đến lớp 9. Mỗi tổ làm sâu một bài sắp dạy, bám yêu cầu cần đạt của Chương trình 2018 và đúng bộ sách nhà trường đang dùng. Kế hoạch minh họa chọn môn Toán, lớp 7, để có một bài viết đủ phiếu. Môn và khối của kế hoạch minh họa là chỗ để xem cách làm. Tổ thay bằng bài của mình khi sinh hoạt.
Giới hạn khi xếp nhóm. Nhóm chỉ dùng cho bài đang dạy. Giáo viên giữ bảng xếp nhóm, không ghi “yếu” hay “giỏi” lên phiếu phát cho học sinh, không đọc tên nhóm trước lớp, và không mang họ tên học sinh ra buổi sinh hoạt. Bài làm đưa ra thảo luận được xóa tên, chỉ còn “bài 1”, “bài 2”.

08

Phương pháp, cách thức thực hiện

Phương pháp

  • Nghiên cứu tài liệu. Đối chiếu định hướng dạy học phân hóa trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với yêu cầu cần đạt của bài tổ chọn và với sách giáo khoa nhà trường đang dạy.
  • Xem bài làm của một lớp. Mỗi giáo viên mang bài của một tiết gần nhất, đã xóa họ tên, để chỉ ra chỗ lớp đang chênh: em nào vướng kiến thức nền, em nào chưa làm được quy trình của bài, em nào làm xong và giải thích được.
  • Thảo luận tiêu chí. Cụm chốt cách xếp ba nhóm theo bài, thay cho cách lấy danh sách học lực đầu năm áp vào mọi tiết.
  • Thực hành thiết kế. Mỗi tổ viết ba nhiệm vụ cho một bài sắp dạy, trên cùng một yêu cầu cần đạt.
  • Phản biện chéo. Tổ khác đọc ba nhiệm vụ: còn cùng yêu cầu cần đạt hay không, chỗ bù kiến thức nền có đúng việc học sinh đang vướng hay không, việc của học sinh khá giỏi có còn trong bài hay không.
  • Dạy thử và ghi lại. Giáo viên dạy một tiết bằng kế hoạch đã thống nhất, ghi mỗi nhóm làm đến bước nào. Ghi chép này dùng để xem giả thuyết có đứng với bài đó hay không.

Cách thức thực hiện

Biện pháp tác động là một chuỗi năm bước trên cùng một bài. Bỏ bước xếp nhóm hoặc bỏ yêu cầu cần đạt chung thì nhiệm vụ chưa được coi là dạy học phân hóa theo chuyên đề này.

1

Chốt một yêu cầu cần đạt và nhìn chỗ lớp đang chênh

Tổ chọn một bài sắp dạy. Viết một yêu cầu cần đạt bằng câu của chương trình môn học, rồi nói lại bằng việc học sinh phải làm ra được trong tiết đó. Giáo viên xem bài tiết liền trước hoặc một phiếu ngắn đầu tiết, và ghi ba việc nhìn thấy được: em dừng ở kiến thức nền, em có nền nhưng chưa tự đi hết quy trình, em làm xong sớm và nói được vì sao.

Năng lực ở đây là việc học sinh làm được yêu cầu của bài. Trình độ là mức kiến thức, kỹ năng đã có trước khi vào bài mới. Khả năng tiếp thu là nhịp hiểu và nhịp tự làm sau khi đã được hướng dẫn. Ba mặt này không thay bằng một xếp loại học lực.

2

Xác định nhóm theo bài đang dạy

Xếp học sinh vào ba nhóm cho riêng bài đó. Một em có thể ở nhóm này ở môn Toán và ở nhóm khác ở môn Văn. Sang bài sau, nhóm được xếp lại nếu căn cứ đã đổi.

  • Nhóm cần hỗ trợ. Chưa làm được yêu cầu của bài liền trước, hoặc dừng ở kiến thức nền của bài mới. Trong nhóm này tách hai dạng, vì cách đỡ khác nhau: dạng còn hạn chế về kiến thức nền, và dạng đã có nền nhưng chưa tự làm được các bước của bài.
  • Nhóm mức chuẩn. Làm được yêu cầu khi tình huống gần với bài đã học, còn lúng khi tình huống đổi cách diễn đạt hoặc thêm một bước.
  • Nhóm phát huy. Hoàn thành đúng, sớm, và giải thích được cách làm. Đây là căn cứ của bài này, dùng cho học sinh khá, giỏi ở đúng nội dung đang dạy.
3

Viết ba nhiệm vụ cùng hướng tới yêu cầu cần đạt

Cả ba nhiệm vụ yêu cầu học sinh làm ra cùng một loại sản phẩm của yêu cầu cần đạt. Chỗ khác nhau là lượng gợi ý, số tình huống, và việc học sinh phải tự quyết định đến đâu.

  • Nhóm cần hỗ trợ: có ví dụ một dòng, có khung bước, có câu hỏi dẫn. Kiến thức nền được bù ngắn ngay trên phiếu hoặc trong 5 đến 8 phút đầu, đúng mảnh đang thiếu.
  • Nhóm mức chuẩn: tự lập cách làm, trình bày đủ, tình huống vừa sức với yêu cầu của tiết.
  • Nhóm phát huy: làm nhiệm vụ mức chuẩn, rồi giải thích một cách làm chưa đúng, hoặc đặt thêm một tình huống cùng chuẩn và tự kiểm tra.

Phiếu phát cho học sinh ghi “Phiếu 1”, “Phiếu 2”, “Phiếu 3”. Tên nhóm chỉ nằm ở bản giáo viên.

4

Hỗ trợ học sinh chưa đạt yêu cầu và học sinh còn hạn chế về kiến thức nền

Hai dạng trong nhóm cần hỗ trợ không nhận cùng một kiểu đỡ.

Với học sinh còn hạn chế về kiến thức nền. Giáo viên chỉ ra đúng mảnh còn thiếu của bài này: phép tính công cụ, khái niệm vừa dùng, từ then chốt, đơn vị đo, hoặc mẫu câu. Cho một việc ngắn để dùng lại mảnh đó, rồi đưa em vào nhiệm vụ chung. Việc bù nằm trong tiết, đủ để đi tiếp, không dạy lại cả chương giữa giờ. Nếu em chưa đọc được đề, giáo viên đọc đề một lần và giữ lại câu hỏi của bài.

Với học sinh đã có nền nhưng chưa đạt yêu cầu của bài. Phiếu chia bước. Giáo viên hoặc bạn cùng bàn kiểm tra bước đầu trước khi em làm tiếp. Bạn hỗ trợ chỉ được hỏi lại bước, không đọc hộ kết quả. Số tình huống ít hơn nhóm chuẩn. Thời gian dành cho phần lõi nhiều hơn. Khi em làm đúng với khung, giáo viên ghi đã đạt phần đó với hỗ trợ, và giữ lại một câu ngắn để tiết sau em tự lập bước đầu.

Trong giờ, giáo viên đến nhóm này trước. Thẻ gợi ý để úp trên bàn, em nào cần thì lật. Ghế của nhóm ngồi ở chỗ giáo viên với tới được trong lúc nhóm khác đang làm.

5

Phát huy học sinh khá, giỏi và dạy thử

Học sinh khá, giỏi ở bài này không ngồi chờ và không nhận một đề thuộc nội dung khác. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ mức chuẩn, các em làm một trong ba việc, tùy bài: giải thích vì sao làm vậy; chỉ ra chỗ sai trong một lời giải có sẵn rồi làm lại cho đúng; đặt một tình huống mới cùng yêu cầu cần đạt và tự kiểm tra. Cuối tiết, một em trình bày chỗ sai hoặc tình huống mới trong khoảng một phút. Việc trình bày là phần phát huy, đồng thời giúp cả lớp nghe lại yêu cầu.

Giáo viên dạy một tiết theo kế hoạch đã phản biện. Cuối tiết, cả lớp làm một câu chốt cùng đề. Giáo viên ghi mỗi nhóm đã tự làm được đến bước nào, ai còn cần thẻ gợi ý, và một chỗ cần sửa trên phiếu lần sau.

Ba nhiệm vụ trông như thế nào

Ví dụ rút gọn từ kế hoạch minh họa, môn Toán, lớp 7, yêu cầu của tiết là tìm được thành phần chưa biết trong tỉ lệ thức và dùng kết quả để trả lời một tình huống thực tế. Đề đủ và phiếu in nằm ở tệp kế hoạch bài dạy. Bảng dưới chỉ để thấy chỗ giống nhau và chỗ khác nhau.

Phiếu 1 · nhóm cần hỗ trợ Phiếu 2 · nhóm mức chuẩn Phiếu 3 · nhóm phát huy
Cùng hướng tới Lập được tỉ lệ thức của tình huống, tìm được số chưa biết, viết câu trả lời có đơn vị.
Kiến thức nền Vài phép nhân, chia và đổi mét ra xentimét ở đầu phiếu, đúng chỗ hay sai khi vào tỉ lệ thức. Huy động khi tự đổi đơn vị và tính. Dùng khi giải thích một tỉ lệ thức lập sai và khi kiểm tra tình huống mới.
Độ gợi ý Tỉ lệ thức mẫu, câu hỏi dẫn từng bước, rồi một câu ngắn để tự lập theo khung. Tự lập tỉ lệ thức, trình bày đủ hai tình huống. Làm tình huống chính, chỉ ra một tỉ lệ thức lập sai, rồi đặt một kích thước mới cùng tỉ lệ và kiểm tra bằng tích chéo.

Tiến trình buổi sinh hoạt và việc sau buổi

Thời điểm Việc làm Dấu hiệu xong
15 phút đầu Nêu vấn đề của chuyên đề. Mỗi giáo viên viết ba dòng về một lớp: chỗ hổng nền, chỗ chưa làm được quy trình, chỗ làm xong sớm. Có mô tả theo bài làm, không theo xếp loại học lực cả năm.
25 phút Chốt ba nhóm và hai dạng trong nhóm cần hỗ trợ. Tập xếp nhóm trên bài đã xóa tên. Cùng một bài làm, tổ nói được em thuộc dạng nào và cần được đỡ việc gì.
20 phút Chốt quy tắc viết nhiệm vụ: cùng yêu cầu cần đạt, khác gợi ý, khác việc bù và việc phát huy. Tổ chỉ ra được một phiếu “dễ” đã bị đổi thành bài khác, và một phiếu “khó” đã lệch yêu cầu của tiết.
50 phút Mỗi tổ viết ba nhiệm vụ cho bài sắp dạy, kèm đáp án hoặc hướng xử lý. Có đủ phiếu 1, phiếu 2, phiếu 3 trên cùng một yêu cầu cần đạt.
30 phút Phản biện chéo theo bốn câu: cùng yêu cầu chưa, đã bù đúng kiến thức nền chưa, học sinh khá giỏi còn trong bài chưa, phiếu học sinh có bị ghi nhãn không. Mỗi sản phẩm được một tổ khác đọc và có điều cần sửa hoặc điều đã đạt.
Về trường, một tiết sau buổi Dạy thử. Cuối tiết dùng một câu chốt cùng đề. Ghi bước mỗi nhóm làm được. Có căn cứ để nói giả thuyết đứng với bài đó, hoặc cần viết lại nhiệm vụ.

Kế hoạch đã đi hết các bước trên, gồm phiếu học sinh, đáp án và bảng ghi sau tiết, nằm ở tệp kế hoạch bài dạy. Tổ dùng tệp đó để xem cách trình bày, rồi thay bằng bài của môn mình.

09

Kết quả cần có

Chuyên đề kết thúc đợt sinh hoạt khi cụm nhận được đủ các sản phẩm dưới đây. Đây là kết quả của cách làm trong đợt này. Các sản phẩm đồng thời là dấu hiệu để xem giả thuyết khoa học có đứng với bài được chọn hay không.

  1. Bộ căn cứ xếp nhóm theo bài, nêu ở bước 2 của cách thức thực hiện, để tổ nào cũng tách được nhóm cần hỗ trợ, nhóm mức chuẩn và nhóm phát huy, và tách được hai dạng trong nhóm cần hỗ trợ.
  2. Quy tắc viết nhiệm vụ: cùng một yêu cầu cần đạt; khác độ gợi ý; có chỗ bù kiến thức nền; có việc phát huy trong bài; phiếu học sinh không mang nhãn “yếu”, “giỏi”.
  3. Giải pháp hỗ trợ cho học sinh chưa đạt yêu cầu và cho học sinh còn hạn chế về kiến thức nền, đủ cụ thể để dùng trong một tiết: bù mảnh còn thiếu, khung bước, kiểm tra bước đầu, thẻ gợi ý, bạn hỗ trợ không đọc hộ kết quả.
  4. Giải pháp phát huy cho học sinh khá, giỏi: giải thích, bắt lỗi một lời giải, hoặc tình huống mới cùng yêu cầu cần đạt, và một phút trình bày cuối tiết.
  5. Mỗi tổ một kế hoạch hoặc một hoạt động cho bài sắp dạy, có ba nhiệm vụ, có đáp án hoặc hướng xử lý, đã được tổ khác phản biện.
  6. Một ghi chép sau tiết dạy thử: mỗi nhóm làm đến bước nào của yêu cầu cần đạt, ai còn cần thẻ gợi ý, một chỗ phiếu cần sửa. Ghi chép này là căn cứ để xem giả thuyết có đứng với bài đó hay không.

Kế hoạch minh họa đã làm đủ các mục trên cho một tiết Toán 7 nằm ở tệp Kế hoạch bài dạy minh họa. Sản phẩm từng tổ nộp sau buổi sinh hoạt là bản do tổ viết cho bài của mình.

Chuyên đề đạt kết quả khi giáo viên chỉ được, với bài sắp dạy, nhóm nào đang vướng việc gì và đưa ra được nhiệm vụ tương ứng, cùng hướng tới yêu cầu cần đạt. Một bài trình bày về ý nghĩa của dạy học phân hóa, chưa có ba nhiệm vụ của một bài cụ thể, chưa phải kết quả của chuyên đề này.

10

Tài liệu tham khảo

Chỉ ghi những tài liệu chuyên đề này dựa vào khi xác định vấn đề, yêu cầu cần đạt và cách đánh giá trong tiết. Khi đối chiếu một phiếu cụ thể, giáo viên dùng đúng bài trong sách của trường mình.

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018. Dùng ở định hướng dạy học phù hợp với sự khác nhau của học sinh, mọi học sinh đều hướng tới yêu cầu cần đạt.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), chương trình các môn học cấp trung học cơ sở ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Dùng khi chốt yêu cầu cần đạt của bài tổ chọn. Kế hoạch minh họa đối chiếu nội dung tỉ lệ thức ở chương trình môn Toán, lớp 7.
  3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2021 quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung đang áp dụng. Dùng khi nhận xét mức độ học sinh làm được yêu cầu trong quá trình học, không dùng để thay bài kiểm tra định kì bằng phiếu phân hóa của một tiết.
  4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường. Dùng khi đặt kế hoạch bài dạy vào kế hoạch giáo dục của nhà trường.
  5. Cụm chuyên môn cấp THCS, kế hoạch sinh hoạt chuyên môn của năm học, mục giao chuyên đề này.
  6. Sách giáo khoa các môn lớp 6, 7, 8, 9, đúng bộ sách từng trường trong cụm đang dạy. Dùng để đối chiếu tình huống, thuật ngữ và yêu cầu của bài trước khi in phiếu.