Chuyên đề ... Tháng .../...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỤM CHUYÊN MÔN SỐ ... CẤP THCS
Trường THCS ... · Đơn vị thực hiện chuyên đề
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

01

Lý do chọn chuyên đề

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu giáo viên THCS thiết kế được hoạt động học tập và học liệu bám yêu cầu cần đạt, đồng thời chú ý sự khác nhau về nhịp học trong cùng một lớp. Việc soạn ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ, phiếu, câu hỏi và tình huống vì thế chiếm nhiều thời gian, nhất là khi một giáo viên dạy nhiều khối.

Hiện nay, công cụ trí tuệ nhân tạo đã đủ dễ để giáo viên mở ra và nhờ soạn giúp. Lợi ích nhìn thấy được: có nhanh vài cách vào bài, một phiếu học tập, một dàn câu hỏi. Khó khăn cũng xuất hiện cùng lúc. Nhiều đồng nghiệp hỏi bằng một câu rất ngắn, kiểu “soạn giáo án bài này”, rồi dùng gần như nguyên văn. Bản nhận về thường viết trôi, nhưng niên đại, công thức, câu trích hoặc đáp số có thể sai. Bài cũng ít khi tính đến em còn lúng túng ở bước đầu và em đã làm xong sớm.

Một số việc làm thêm phần rủi ro. Có giáo viên định dán bảng điểm kèm họ tên học sinh vào công cụ trên mạng để nhờ “chia nhóm”. Có phiếu đưa thẳng cho học sinh trong khi giáo viên chưa giải lại bài, chưa đối chiếu sách giáo khoa nhà trường đang dùng. Với học sinh khoảng 11 đến 15 tuổi, một chi tiết sai trong phiếu dễ được chép vào vở như kiến thức của bài.

Cụm chuyên môn giao nội dung này trong đợt sinh hoạt, do một trường THCS được phân công thực hiện, trước các chuyên đề dạy học phân hóa, kiểm tra đánh giá và AI hỗ trợ ôn thi vào lớp 10. Nếu cách dùng AI ở khâu chuẩn bị bài chưa được thống nhất, các chuyên đề sau dễ lặp lại việc lấy bản nháp chưa kiểm chứng làm học liệu.

Điều kiện các trường trong cụm cũng không giống nhau về phòng máy và thiết bị cá nhân của học sinh. Hướng làm được ngay là giáo viên dùng AI khi chuẩn bị bài, mang vào lớp một học liệu đã được chính mình duyệt. Chuyên đề được chọn vì việc đó đang diễn ra hằng tuần, và có thể chỉnh bằng một quy trình ngắn, không cần thêm hồ sơ mới.

Vấn đề chuyên đề này nhằm giải quyết. Giáo viên trường THCS còn lúng túng khi khai thác AI: chưa tách được việc AI làm tốt với việc giáo viên phải quyết định; sản phẩm đưa vào lớp còn thiếu kiểm chứng; nội dung chưa được chỉnh cho sát đối tượng học sinh.

02

Mục đích của chuyên đề

Mục đích chung

Giúp giáo viên THCS trong cụm chuyên môn khai thác AI đúng việc và có kiểm chứng, để ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ học tập, phiếu, câu hỏi và học liệu sát yêu cầu cần đạt, đồng thời điều chỉnh được độ gợi ý cho đúng nhóm học sinh mình đang dạy.

Mục đích cụ thể

  1. Giáo viên thống nhất được vai trò, khả năng và giới hạn của AI trong dạy học ở trường THCS.
  2. Giáo viên có một quy trình soạn bài dùng được ngay: chốt yêu cầu cần đạt, viết câu lệnh, lấy bản nháp, thẩm định rồi mới dùng.
  3. Cùng một nhiệm vụ học tập được chỉnh theo nhóm học sinh, vẫn giữ nguyên yêu cầu cần đạt.
  4. Mỗi tổ có học liệu hoặc hoạt động đã được chính giáo viên sửa, dùng được trong đợt sinh hoạt và lần dạy thử ngay sau đó.
  5. Cụm có một cách làm chung, để các chuyên đề sau khỏi lấy lại bản nháp chưa kiểm chứng.

Những việc phải làm để đạt các mục đích này nằm ở mục Nhiệm vụ của chuyên đề. Cách làm nằm ở mục Phương pháp, cách thức thực hiện.

03

Khách thể, đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động

Ba lớp này trùng một phần nhưng không phải một việc. Tách ra để khỏi nhầm người được nghiên cứu với người được hưởng học liệu.

Đối tượng nghiên cứu

Việc giáo viên THCS khai thác trí tuệ nhân tạo khi thiết kế ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ, phiếu, câu hỏi, học liệu, và khi chỉnh độ gợi ý cho đúng nhóm học sinh. Đây là việc chuyên đề xem xét, không phải một phần mềm cụ thể.

Khách thể nghiên cứu

Giáo viên đang dạy ở các trường trong cụm chuyên môn cấp THCS, thuộc các tổ Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Tiếng Anh. Cán bộ quản lý dự buổi sinh hoạt để cùng chốt nguyên tắc, không nằm trong khách thể được nghiên cứu.

Đối tượng tác động

Cũng là nhóm giáo viên ấy. Quy trình trong chuyên đề tác động vào cách họ soạn bài: viết câu lệnh, thẩm định bản nháp, rồi mới đưa học liệu vào lớp. Chuyên đề không tác động bằng cách giao học sinh dùng AI trên lớp.

Học sinh không phải đối tượng tác động của buổi sinh hoạt. Học sinh lớp 6 đến lớp 9 chỉ gặp phiếu, câu hỏi hoặc hoạt động sau khi giáo viên đã duyệt. Các em là người được hưởng sản phẩm, không phải người được giao làm thử quy trình.

Trong buổi sinh hoạt, tác động gắn với một bài tổ chọn và với lớp giáo viên đang đứng. Giới hạn về bài và thời gian nằm ở mục Phạm vi của chuyên đề.

Ai Vai trò đối với chuyên đề
Giáo viên bộ môn Đối tượng tác động. Đổi cách ra lệnh cho AI, cách soi lỗi, và cách giao nhiệm vụ khác nhau về lượng gợi ý trong cùng một yêu cầu cần đạt.
Đầu mối nhóm tổ Thuộc nhóm giáo viên được tác động. Nhận, lưu và chuyển sản phẩm đã có dòng thẩm định, để kho học liệu của cụm không chứa bản nháp chưa đọc.
Học sinh Người được hưởng học liệu đã duyệt. Không phải đối tượng tác động, không phải khách thể nghiên cứu.

04

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi. Khi giáo viên THCS soạn bài bằng AI theo một quy trình có kiểm chứng, và chỉnh lượng gợi ý theo nhóm học sinh mà vẫn giữ nguyên yêu cầu cần đạt, thì ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ, phiếu, câu hỏi và học liệu có sát chương trình hơn, ít lỗi kiến thức hơn và hợp với học sinh hơn so với bản AI đem dùng ngay hay không?

Câu hỏi này chỉ nhằm vào khâu chuẩn bị bài trong đợt sinh hoạt và lần dạy thử ngay sau đó, tại các tổ chuyên môn của cụm. Câu trả lời dự kiến nằm ở giả thuyết ngay sau đây. Căn cứ để trả lời là học liệu đã thẩm định và ghi chép sau một lần dạy thử, không phải một bài kiểm tra chuẩn hóa.

05

Giả thuyết khoa học

Giả thuyết. Nếu giáo viên THCS khai thác AI theo một quy trình thống nhất — chốt yêu cầu cần đạt trước khi viết câu lệnh, chỉ đưa vào lớp bản đã được đối chiếu với sách giáo khoa và giải lại, đồng thời chỉnh lượng gợi ý theo nhóm học sinh mà vẫn giữ nguyên yêu cầu cần đạt — thì ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ, phiếu, câu hỏi và học liệu sẽ sát chương trình hơn, ít lỗi kiến thức hơn và hợp với đối tượng học sinh hơn so với việc dùng ngay nội dung do AI tạo ra.

Giả thuyết này được xem là có cơ sở khi, sau buổi sinh hoạt và một lần dùng thử, sản phẩm của tổ thể hiện được các dấu hiệu sau:

  1. Có ít nhất một lỗi của bản nháp được chỉ ra và được sửa trước khi phát cho học sinh.
  2. Công thức, niên đại, số liệu, câu trích hoặc lệnh máy trong phiếu khớp bài đang dạy, theo đúng sách của trường.
  3. Mức hỗ trợ và mức mở rộng cùng hướng tới một yêu cầu cần đạt; mức hỗ trợ không bị cắt thành bài dễ hơn hẳn.
  4. Phiếu không chứa họ tên, điểm hoặc hoàn cảnh riêng của học sinh.
  5. Sau tiết dạy thử, giáo viên ghi được một chỗ học sinh làm được và một chỗ phiếu còn vướng.

Chuyên đề không dùng một bài kiểm tra chuẩn hóa để chứng minh giả thuyết ngay trong đợt sinh hoạt. Căn cứ để bàn lại giả thuyết là sản phẩm đã thẩm định và ghi chép sau khi dạy. Nếu sản phẩm vẫn sai kiến thức hoặc vẫn giao cùng một phiếu cho cả lớp mà không có chỗ chỉnh, giả thuyết chưa được củng cố ở tổ đó và quy trình cần làm lại trên chính bài ấy.

06

Nhiệm vụ của chuyên đề

  1. Làm rõ vấn đề: giáo viên lúng túng ở khâu nào khi dùng AI để soạn bài và để chỉnh nội dung theo học sinh.
  2. Xác định vai trò, khả năng và giới hạn của AI trong dạy học THCS. Nội dung chốt nằm ở bước 1 của cách thức thực hiện.
  3. Xây dựng quy trình năm bước soạn bài và mẫu câu lệnh cho năm loại việc: ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ học tập, phiếu học tập, câu hỏi, học liệu. Năm bước được viết rõ ở bước 2 của cách thức thực hiện.
  4. Xây dựng cách chỉnh một nhiệm vụ đã đúng thành hai phiên bản: nhiều gợi ý hơn cho học sinh còn lúng túng, mở hơn cho học sinh làm xong sớm.
  5. Thể hiện quy trình bằng một số sản phẩm dạy học đã có phần lỗi bản nháp, phần đã sửa và phần đáp án.
  6. Tổ chức buổi sinh hoạt để mỗi tổ tự làm một học liệu hoặc một hoạt động cho bài sắp dạy, rồi phản biện chéo.
  7. Nhận sản phẩm về trường, dùng thử, ghi một điều chỉnh và chia sẻ trên nhóm tổ.

Nhiệm vụ 5 được trình bày thành học liệu riêng trong tệp Sản phẩm dạy học có sự hỗ trợ của AI, gồm minh họa Toán 8, Ngữ văn 8, Khoa học tự nhiên 8, Lịch sử 7 và Tiếng Anh 7, cùng phiếu thẩm định dùng chung. Các tổ Hóa học, Sinh học, Địa lý và Tin học dùng khung trong tệp đó để làm sản phẩm của môn mình.

07

Phạm vi của chuyên đề

Mặt Trong chuyên đề này Để chuyên đề khác của cụm
Nội dung Nhận thức về AI; khai thác AI khi tạo ý tưởng bài dạy, nhiệm vụ, phiếu, câu hỏi, học liệu; chỉnh độ gợi ý theo nhóm học sinh; thẩm định trước khi dùng. Dạy học phân hóa, kiểm tra đánh giá, và AI hỗ trợ ôn thi vào lớp 10 thuộc các chuyên đề sau của cụm.
Người Giáo viên chín tổ chuyên môn của cụm. Học sinh chỉ gặp sản phẩm sau khi giáo viên đã duyệt. Không mở rộng thành đề tài về phụ huynh dùng AI, hay về học sinh tự học trên các ứng dụng ngoài nhà trường.
Địa bàn Các trường thuộc cụm chuyên môn cấp THCS. Không khảo sát toàn tỉnh, không so sánh thương hiệu phần mềm.
Thời gian Biên soạn và sinh hoạt trong đợt cụm giao. Dùng thử trên lớp ngay sau buổi sinh hoạt. Không theo dõi cả năm học trong khuôn khổ chuyên đề này.
Cấp học và bài THCS, lớp 6 đến lớp 9. Mỗi tổ làm sâu một bài sắp dạy, bám yêu cầu cần đạt của Chương trình 2018 và đúng bộ sách nhà trường. Không soạn lại toàn bộ phân phối chương trình.
Giới hạn chủ động. Chuyên đề không thay giáo viên chấm bài, không dùng AI để xếp loại học sinh, và không đưa đề kiểm tra chưa công bố lên công cụ dùng chung. Những việc đó nằm ngoài phạm vi dù công cụ có làm được về mặt kỹ thuật.

08

Phương pháp, cách thức thực hiện

Phương pháp

  • Nghiên cứu tài liệu. Đối chiếu định hướng chuyên đề trong kế hoạch sinh hoạt chuyên môn của cụm với yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và với sách giáo khoa từng trường đang dạy.
  • Thảo luận tình huống. Đưa các tình huống đang gặp — phiếu có câu trích không có trong sách, đáp số đúng nhưng lời giải sai, định dán bảng điểm kèm họ tên — để cụm tự chốt cách xử lý, thay cho một bài nói một chiều.
  • Thực hành thiết kế. Mỗi tổ dùng câu lệnh đủ ràng buộc để tạo một bản nháp cho bài sắp dạy, rồi sửa bằng chuyên môn của môn mình.
  • Thẩm định chéo. Tổ khác đọc sản phẩm theo phiếu thẩm định: đúng yêu cầu cần đạt chưa, kiến thức đã đối chiếu chưa, học sinh có hiểu lệnh không, đã có chỗ chỉnh theo đối tượng chưa.
  • Dùng thử và ghi lại. Giáo viên dạy một tiết hoặc một hoạt động bằng học liệu đã duyệt, ghi một điều học sinh làm được và một chỗ phiếu còn vướng. Ghi chép này dùng để xem giả thuyết có đứng với bài đó hay không.

Cách thức thực hiện

Biện pháp tác động gồm ba việc làm liên tiếp. Giáo viên không bỏ bước nào rồi vẫn coi sản phẩm là đã xong.

1

Chốt vai trò, khả năng và giới hạn

Vai trò. AI hỗ trợ khâu chuẩn bị bài. Giáo viên chọn yêu cầu cần đạt, chọn hoạt động đưa vào tiết học và chịu trách nhiệm về phiếu đã phát.

Khả năng. Công cụ nghĩ được vài phương án vào bài, phác phiếu, đổi số liệu, thêm gợi ý cho một nhóm học sinh.

Giới hạn. Công cụ có thể viết trôi một ý sai, và không biết lớp mình đang dạy. Không nhập họ tên, điểm, hoàn cảnh gia đình. Bản chưa đối chiếu sách và chưa giải lại thì chưa được đưa vào lớp. Nội dung phải phù hợp học sinh THCS.

2

Soạn theo năm bước

  1. Chốt yêu cầu cần đạt, thời lượng và một khó khăn của lớp.
  2. Viết câu lệnh đủ bài, đủ sản phẩm cần nhận, và cấm bịa dẫn chứng.
  3. Nhận bản nháp.
  4. Đối chiếu sách, giải lại rồi sửa.
  5. Dùng trên lớp và ghi một chỗ cần chỉnh lần sau.

Câu lệnh một dòng, kiểu “soạn giúp bài này”, chưa được tính là đã viết câu lệnh.

3

Chỉnh theo đối tượng sau khi bài mức chuẩn đã đúng

Từ nhiệm vụ đã giải lại, tạo thêm mức có khung gợi ý cho học sinh chưa biết bắt đầu, và mức có thêm một câu giải thích hoặc một tình huống mới cho học sinh làm xong sớm. Cả ba mức cùng một yêu cầu cần đạt. Giáo viên chọn mức giao, không phát cả ba cho cùng một em trong một tiết.

Mẫu câu lệnh dùng chung trong buổi thực hành

Mỗi tổ điền chỗ trong ngoặc vuông theo bài sắp dạy. Chỗ không chắc, yêu cầu công cụ ghi rõ để giáo viên đối chiếu, không được điền cho có.

Câu lệnh gốc khi soạn nhiệm vụ học tập cho học sinh. Khi cần phiếu, câu hỏi hoặc học liệu, chỉ đổi dòng “sản phẩm cần tạo”.

Bạn hỗ trợ giáo viên THCS môn [môn], lớp [lớp]. Học sinh khoảng 11–15 tuổi.

Bài: [tên bài]. Bộ sách nhà trường đang dùng: [tên bộ sách].
Yêu cầu cần đạt: [1–2 ý].
Thời lượng: [số phút]. Khó khăn của lớp, không nêu tên học sinh: [mô tả dạng lỗi].
Sản phẩm cần tạo: [nhiệm vụ / phiếu / câu hỏi / học liệu], có phần học sinh và phần đáp án hoặc hướng xử lý cho giáo viên.

Không bịa trích dẫn, số liệu, công thức, niên đại. Không vượt chương trình lớp này.
Chỗ không chắc hãy ghi [CẦN GIÁO VIÊN ĐỐI CHIẾU].

Tiến trình trong buổi sinh hoạt và sau buổi

Thời điểm Việc làm Dấu hiệu xong
10 phút đầu buổi Nêu tên chuyên đề và vấn đề cần giải quyết. Không mở đầu bằng giới thiệu công cụ. Cả hội nghị nói được vấn đề bằng một câu: dùng AI nhưng còn thiếu kiểm chứng và chưa sát học sinh.
25 phút Nhóm xử lý một tình huống: câu trích không có trong sách; lời giải sai dù đáp số đúng; định đưa bảng điểm kèm tên lên mạng. Có cách xử lý được nói thành lời: không phát phiếu, không dùng lời giải sai, không đưa dữ liệu cá nhân.
15 phút Chốt ba việc của biện pháp và mẫu câu lệnh. Tổ biết bước nào chưa làm thì sản phẩm chưa được dùng.
55 phút Từng tổ tạo một sản phẩm cho bài sắp dạy, ghi một lỗi đã bắt. Có bản phiếu hoặc hoạt động kèm dòng đã sửa.
40 phút Bốn tổ đại diện trình bày, tổ khác phản biện. Các tổ còn lại nộp phiếu thẩm định. Mỗi sản phẩm được một người cùng môn hoặc gần môn đọc lại.
25 phút Trên sản phẩm vừa làm, thêm mức hỗ trợ và mức mở rộng. Hai mức còn cùng yêu cầu cần đạt với mức chuẩn.
Về trường, sau buổi sinh hoạt Dạy thử. Ghi một chỗ học sinh làm được, một chỗ còn vướng. Đưa lên nhóm tổ. Có căn cứ để nói giả thuyết đứng hay cần làm lại với bài đó.

Năm sản phẩm đã đi hết các bước trên, để tổ xem cách trình bày lỗi và cách sửa, được xếp ở tệp sản phẩm dạy học. Phiếu thẩm định một trang nằm cuối tệp ấy, dùng để kẹp cùng học liệu khi nộp về người điều hành.

09

Kết quả cần có

Chuyên đề kết thúc đợt sinh hoạt khi cụm nhận được đủ các sản phẩm dưới đây. Đây là kết quả của cách làm, chưa phải số liệu một cuộc thực nghiệm. Các sản phẩm đồng thời là dấu hiệu để xem giả thuyết khoa học có đứng với bài đó hay không.

  1. Quy trình và câu lệnh dùng chung, nêu trong mục phương pháp của tài liệu này, để tổ nào cũng soạn theo cùng các bước.
  2. Mỗi tổ một học liệu hoặc một hoạt động cho bài sắp dạy trong đợt này, có đáp án hoặc hướng xử lý, có dòng giáo viên thẩm định, có ít nhất một lỗi của bản nháp đã được sửa.
  3. Hai mức nhiệm vụ trên cùng yêu cầu cần đạt: mức nhiều gợi ý hơn và mức mở hơn.
  4. Phiếu thẩm định kẹp cùng học liệu khi nộp về người điều hành và khi lưu kho học liệu của cụm.
  5. Một ghi chép sau tiết dạy thử: một chỗ học sinh làm được và một chỗ phiếu còn vướng. Ghi chép này là căn cứ để xem giả thuyết có đứng với bài đó hay không.

Năm học liệu minh họa đã làm đủ các bước, để các tổ xem cách trình bày, nằm ở tệp Sản phẩm dạy học có sự hỗ trợ của AI. Phiếu thẩm định một trang nằm cuối tệp ấy. Sản phẩm của từng tổ sau buổi sinh hoạt là bản do chính tổ làm, không thay bằng bản minh họa.

Chuyên đề đạt kết quả khi giáo viên mang được học liệu đã kiểm chứng về lớp và nói được mình đã sửa chỗ nào. Một bản AI dài, chưa ai giải lại và chưa ai đối chiếu sách, chưa phải kết quả của chuyên đề này.

10

Tài liệu tham khảo

Chỉ ghi những tài liệu chuyên đề này thực sự dựa vào khi xác định vấn đề, yêu cầu cần đạt và phạm vi. Khi đối chiếu một phiếu cụ thể, giáo viên dùng đúng bài trong sách của trường mình, không trích nguyên văn sách vào chuyên đề.

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), chương trình các môn học cấp trung học cơ sở ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, dùng khi chốt yêu cầu cần đạt của bài được chọn.
  3. Cụm chuyên môn cấp THCS, kế hoạch sinh hoạt chuyên môn của năm học, mục giao chuyên đề này.
  4. Sách giáo khoa lớp 6, 7, 8, 9 các môn, đúng bộ sách từng trường trong cụm đang dạy. Dùng để đối chiếu công thức, sự kiện, câu trích và từ vựng trước khi phát phiếu.